Hồi cha tôi, ông Nguyễn Duy Tiễu khi sắp đi về chốn cao xanh vào năm 2004, có kể lại cho các con nghe về thời kỳ ông từng công tác trong lĩnh vực bảo đảm giao thông trên vùng cao, từ 1950-1955.
Ông kể rằng khi ông được phân công về Bắc Kạn và được phụ trách một cung đường giao thông huyết mạch mà ở đó lại chính là điểm nóng của cuộc kháng chiến, bởi quân Pháp liên tục thả bom, bắn phá ác liệt nhất vùng . Cũng chính nơi đây ông đã được rèn luyện , thử thách và cống hiến cho đất nước và đã trở thành quyền Trưởng ty Giao thông Cao Bằng vào năm 1955 dù không là đảng viên .
Ông đã từng dẫn đầu hàng trăm thanh niên xung phong, dân công đi phá bom nổ chậm. Có nhiều lần ông phải đứng bên cạnh bom chưa nổ để chỉ huy khi anh em họ tháo ngòi khiến ông không thể nào quên . Có những đêm đuốc sáng rực trời, ông đã cùng thanh niên xung phong, dân công hò hát để quên đi những nhịp tim đập hồi hộp trước sự hiểm nguy cận kề khi bom chưa nổ đang chờ tháo gỡ .
Có không ít lần gỡ bom chưa xong nhưng bị Pháp ném tiếp, ông buộc phải cho rút quân thì bom nổ . May mà lúc đó đoàn xe quân sự đã qua ,an toàn. Người chỉ huy dừng xe lại bắt tay ông cảm ơn. Lúc đó còn hạnh phúc nào lớn hơn thế. Ðơn vị của ông thật mừng là không có ai bị thương vong .
Có những đêm lũ sông ầm ầm đổ về, phà bị tuột dây . Ông phải bơi dù không hề bơi tốt. Vậy mà ông vẫn phải lao xuống sông bám theo và tìm cách níu phà lại để nếu như lại có ô tô đến thì vẫn có phà để qua sông.
Xin nói ngoài lề một chút: Giai đoạn chiến tranh chống Mỹ khi chúng đánh phá ra Khu 4 bằng máy bay để ngăn chặn đường tiếp viện của miền Bắc vào chiến trường miền Nam.
Cha tôi công tác trong Khu 4. Ông từng làm Phó Chỉ huy trưởng Thanh niên Xung phong 3 với trên 5.500 TNXP mà một phần lớn đơn vị ông phụ trách là TNXP của Nam Ðịnh và Hà Nội. Vì thế, cha tôi cũng đã từng gặp bà con người làng mình, làng Hành Thiện, Nam Ðịnh (nay thuộc Ninh Bình ) khi ở cùng đơn vị.
Cha tôi kể, trong chiến trường ác liệt, khi nào có dịp gặp được người cùng quê hàng huyện ( Xuân Trường) thôi thì đã rất đỗi vui mừng nói gì được gặp người cùng làng . Nó cứ như thể là họ hàng anh em thân thiết nhau vậy . Lý do bởi chuyện sống chết với mỗi người trong tuyến lửa đầy khốc liệt ấy , giữa cái sống và chết đến bất kể lúc nào, không thể nói trước ...
Cha tôi từ nhỏ đã rất sáng dạ cho nên khi đi công tác,ông luôn có nhiều sáng kiến trong chuyên môn. Thế nên ông nhiều lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh , kể cả của Chiến khu Việt Bắc. Rồi ông cũng còn được cả Bằng khen của Chính phủ vào cuối năm 1953. Ðầu năm 1954, cha tôi được Bộ Giao thông Công chính triệu tập tham gia Ðoàn công tác kiểm tra an toàn giao thông các tỉnh biên giới suốt tận Tây Bắc.
Khi hòa bình lập lại, lúc đó ông mới 27 tuổi nhưng đã được cử phụ trách quyền Trưởng Ty Giao thông Công chính Tỉnh Cao Bằng rồi đến năm 1961 làm quyền Trưởng ty Giao thông Công chính Khu Hồng Quảng ( tức Quảng Ninh ngày nay). Lý do ông chỉ mãi là "quyền" bởi vướng "tì vết" khó xoá trong đời. Năm 1945, ông lỡ theo người anh con con bác dự lệ tuyên thệ của anh họ gia nhập Quốc dân đảng khi mới có 17 tuổi .
Tuy đảng này cũng chủ trương chống Pháp nhưng không đồng quan điểm với Ðảng Cộng sản Ðông Dương . Do nhận thức được ngay sau đó, ông đã từ bỏ rồi theo cách mạng và thực tế thì cũng chỉ đứng chứng kiến anh họ tuyên thệ mà không hề sinh hoạt trong tổ chức này. Ông học khoá 1 trường Cao đẳng Giao thông Công chính của ta mở ở vùng kháng chiến Thanh Hoá rồi ra trường. Ðược Bộ Giao thông biệt phái (trưng dụng) vào lực lượng Pháo binh của quân đội , giúp quân đội một thời gian về kỹ thuật đo đạc pháo binh . Sau đó được Bộ Giao thông rút về phục vụ đúng công việc của ngành ông được đào tạo .
Ông có một kỷ niệm có thể gọi là "nhớ đời' với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Ðó là trong giai đoạn kháng chiến đầu những năm 50 nói trên khi ông vô tình được ngồi ngay gần Bác bên con suốt vệ đường mà không dám hé lời chào Bác. Lý do thì có hai: thứ nhất, lần gặp Bác qua ư gần đó lại là lần thấy Bác cải trang đi bộ để tránh bị việt gian chỉ điểm bởi đoàn công tác đó đi xuyên rừng lội suối trong khi lúc đó còn nhiều người dân cũng ngồi nghỉ . Cha tôi lúc đó đã đấu tranh tư tưởng rất dữ dội là mình liệu có nên đứng dậy ra chào Bác hay cứ giả bộ mình không hay biết gì và im lặng?
Vì nếu như ông đứng lên để chào Người tại bờ suối bữa đó thì khác gì Bác hoá trang chưa đạt yêu cầu chứ sao nữa ! Bác như thế tức là vẫn còn bị lộ vì đã có người phát hiện ra mình. Số là bữa đó Bác bó cả bộ râu dài của mình vào trong một chiếc khăn rồi nhét cả vào trong cổ chiếc áo nâu . Bác không nói một lời nào với nhóm tháp tùng mình vì biết có người lạ luôn ngồi cạnh và qua lại.
Do cha tôi từng có lần được gặp Bác tại Hội nghị cho nên với đôi mắt sáng ấy của Người thì hình ảnh ông Cụ vẫn không thể nào dấu nổi cha tôi được .
Thứ nữa , một chuyện cũng khiến cha tôi ngần ngại, thậm chí có chút ngượng ngùng với Người, đó là sự oái oăm vì cha tôi thì đi ngựa còn Bác Hồ thì bữa đó lại đi bộ. Tất nhiên đây chỉ là lý do phụ vì công việc của cha tôi khi đó là đảm bảo huyết mạch giao thông thông suốt cho mặt trận. Vậy cho nên ông cũng không thể cứ đi bộ dăm chục km mỗi ngày mà buộc phải dùng ngựa như vậy .
Có lẽ đó là một cơ hội vô cùng quý với cha tôi, để ông có thể tiếp cận, trò chuyện với Người lúc Người đang ngồi nghỉ giải lao bên bờ suối. Vậy mà ông đã để vuột mất một cơ hội nghìn vàng mà chủ yếu chỉ vì nghĩ đến chuyện cần phải im lặng. Mục đích là bảo vệ an toàn tuyệt đối cho lãnh tụ Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của dân tộc .
Còn với cha tôi, tuy chưa bao giờ có được vinh dự làm một đảng viên cộng sản, nhưng đã hiến dâng cả một cuộc đời cho đất nước và tất cả đều vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân tộc .
Lớp sinh viên khoá 1, Trường Cao đẳng Giao thông Công chính của nước VNDCCH . Ông Nguyễn Duy Tiễu (đứng hàng sau mép bên phải nhìn vào) . Trong ảnh còn có các bạn đồng môn như ông Phạm Ðình Dy( hàng đầu, mép phải ảnh nhìn vào ), nguyên Uỷ viên Trung ương Ðảng,Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tuyên, nguyên Trưởng ty Giao thông Công chính Hà Giang ; ông Trần Thiện Ðoan( người đứng giữa, cao nhất ), nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Ðường sắt …